Mắc kẹt trong thời gian đã mất

BẢO NINH – NHỮNG TRUYỆN NGẮN. 570 trang. NXB Trẻ. 150.000 đ

 

Người đọc “Chuyện xưa kết đi, được chưa?” của Bảo Ninh in năm 1999 bắt gặp hai đoạn văn, gần giống hệt nhau, ở hai truyện ngắn khác nhau. “Thoạt nhìn là người ta đã thấy ở Thủy có cái gì đó không rõ là cái gì, là lạ khang khác không y hệt mọi người. Cách để tóc, cách ăn mặc chẳng khác ai mà vẫn như có hàm một sự diêm dúa thầm lén. Da dẻ trắng trẻo mềm dịu. Cách nói, dáng đi đều được nhận ra là thiếu khiêm nhường.” (Sách cấm) “Nhìn Loan người ta thấy rằng ở cô có cái gì là lạ khang khác không y hệt mọi người. Cách để tóc, cách ăn mặc chẳng khác ai mà vẫn như có hàm một sự diêm dúa thầm lén. Da dẻ trắng trẻo, mềm dịu. Cách nói và dáng đi đều thiếu vẻ mộc mạc.” (Cũ xưa) Hai đoạn này cũng được in lại, không sửa chữa, ở “Bảo Ninh, những truyện ngắn,” NXB Trẻ, 2013. Đoàn Ánh Dương trong “Bảo Ninh – nhìn từ thân phận của truyện ngắn” có một cái nhìn tích cực về sự trùng lặp này, khi cho rằng nhà văn đã hư cấu hóa ký ức cá nhân và biến đời mình thành tự sự. Tôi xin được phép bất đồng với nhận định này. Bởi lẽ chuyện đời của nhà văn trở thành tiểu thuyết có lẽ không phải là điều gì mới mẻ. Năm xưa Proust chấm chiếc bánh quy trong tách trà do bố mang cho để rồi đẩy chi tiết đó thành kỹ thuật tinh xảo mang tên “ký ức tự phát” với chiếc bánh madeleine nhúng trà mở ra cả vùng tuổi thơ ở Combray để tìm lại quá vãng cũng là hư cấu hóa cả cuộc đời vào trang văn. Trong cách đọc của tôi, hai đoạn văn giống hệt nhau, báo hiệu ít nhất ba điều: thứ nhất, chúng là chất liệu được nhào đi nhào lại trong quá trình sáng tác của Bảo Ninh; thứ hai, nhà văn đã cạn dần sáng tạo khi khai thác cạn kiệt vốn quá khứ; thứ ba, ông đã mắc kẹt, không lối thoát, khi đi tìm thời gian đã mất.

14702488_1282324251799748_80856314139136978_n

“Bảo Ninh – Những truyện ngắn” là một tập truyện không đều tay, với loạt truyện cho thấy sự suy tàn của chính tác giả nhưng đồng thời cũng có một vài truyện xuất sắc báo hiệu sự thay đổi. Tập truyện đan xen các câu chuyện về và trong chiến tranh lẫn với chuyện về đời sống thời hậu chiến. Ở mảng thứ nhất, bóng dáng của Phương, “dáng kiều thơm” của Hà Nội và Kiên, anh lính đi B dài, đóng vai trò mẫu mực, lan trùm cả tập truyện. Những mẩu chuyện chiến tranh này như cất tiếng gọi anh gọi em với những trường ký ức của Kiên trong “Nỗi buồn chiến tranh”: chúng là “Ngôi sao vô danh,” “Trại bảy chú lùn,” “Lá thư từ Quý Sửu.” Chúng nhấn cùng một đề tài: những hạnh ngộ trong thời chiến, những cảnh đời, tan nát và móp méo vì cuộc chiến, những tình thương giữa người với người ấm áp mà cay đắng. Cụ thể, “Trại bảy chú lùn” là một truyện dày đặc cảm xúc, kể về một lán xa trong núi nơi các anh em chiến sĩ chịu trách nhiệm cung cấp lương thực lần lượt ngã xuống và hiện tại là một ông bố đơn thân nuôi con của một chiến sĩ nữ khác. Những tinh túy, tuy vậy, dường như đã hội tụ hết trong “Nỗi buồn chiến tranh” mà truyện ngắn Bảo Ninh chỉ còn lại vỏ dom bào. Nhân vật nhà văn người lính Kiên đã tâm niệm viết văn để làm sống lại quá khứ và quá khứ ấy được kể bằng một kỹ thuật nhuần nhuyễn cho đồng hiện các mảng thời gian và không kgian khác nhau với rất nhiều điểm kích thích đẩy ra những vạt ký ức ngồn ngộn. Những câu chuyện chiến tranh chưa kể hết lại được nối tiếp trên trang giấy truyện ngắn bằng một giọng kể buồn buồn và tẻ nhạt. Tác giả lặp đi lặp lại mô hình kể truyện đã trở thành sáo mòn: người kể chuyện gặp một người kể chuyện và người thứ hai ngồi xuống mà bóc ruột gan đời mình ra kể cho người thứ nhất nghe. Thay vì thể hiện lại ký ức, truyện ngắn của Bảo Ninh chỉ đơn thuần kể lại. “Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng” là một truyện ngắn tiêu biểu cho lối kể truyện đến sáo mòn ấy. Nội dung các câu chuyện đều hay, đều cảm động, đều đau đớn nhưng đều được viết lại một cách lê thê không chút sáng tạo. Có một số truyện bật lên khỏi cái giọng kể đó, chẳng hạn, “Hà Nội lúc không giờ” nhờ một thứ ngôn ngữ thơ mộng và buồn, u uất như đêm trừ tịch.

Phải đến các truyện về Hà Nội và thời bình thì Bảo Ninh mới có manh nha rẽ sang được hướng khác, dẫu cái quá khứ vẫn trùm đặc nhưng người đọc đã sang một hiện thực khác. Hà Nội thời hậu chiến trong “Nỗi buồn chiến tranh” không được khắc họa cụ thể, vì nó bị tâm trạng chán nản và lạc loài trầm trọng hóa của Kiên, ám nặng một màu mưa bụi lãng mạn sến sẩm lẫn với sự khinh bỉ nhờ nhờ. Hậu chiến trong “Những truyện ngắn” được mô tả rõ nét hơn, với nhiều sắc thái hơn, với các số phận con người lăn lóc trong một thủ đô chật hẹp, cụ thể nhất là trong “Bội phản” và “Mắc cạn.” “Bội phản” có thể coi là một truyện đậm đặc đô thị bằng những miêu tả sắc nét một ngôi biệt thự Pháp cổ được phân chia cho các hộ dân và cả tầng sinh hoạt chen chúc trong một không gian nơi mọi riêng tư đều bị xâm phạm. Người đọc có thể dựng lại cả một bức tranh sống từ những miêu tả của Bảo Ninh, từ con phố tới căn nhà hai tầng, tới tầng trệt nơi nhân vật nữ sống. Tuy vậy, “Bội phản” vẫn có những nét âm hưởng chung của Bảo Ninh khi kể chuyện một thiếu nữ trong trắng toàn phần bị đàn ông lừa mị: Hoàn toàn có thể thay tên Thảo bằng tên Phương hay tên Giang hay Loan hay cô gái đã cứu người lính bộ đội bị ngất cái mùa đông năm ấy Pháp ném bom Hà Nội. Bảo Ninh đã xây dựng cả một hệ thống nhân vật nữ, nâng họ lên mức thập toàn về nhan sắc lẫn nhân cách, để rồi nhanh chóng bị hệ thống nhân vật nam làm vấy ố. Nhưng ở “Bội phản” người đọc nhìn thấy một Hà Nội cựa mình khó nhọc sau chiến tranh, với những toan tính thực dụng của đời sống, thay vì chiến tranh, tiếp tục làm méo mó tâm hồn con người. Tiếp tục khai thác những vật lộn của đời sống ấy, “Mắc cạn” là một truyện ngắn đỉnh cao của Bảo Ninh: lần đầu tiên người đọc phát hiện ra một giọng văn khác, vừa hài hước, mỉa mai vừa thành thực miêu tả mối tình Túc Hảo từ lúc còn là sinh viên đi học đến lúc trở về nước thành cán bộ sống trong khu tập thể xã hội chủ nghĩa chật chội. Bảo Ninh hé lộ một mặt hài hước đen đã có manh nha ở “Bội phản,” để rồi khai thác hơn nữa những bi kịch của đời sống ở một truyện ngắn khác, “Bi kịch con khỉ.” Có thể nói đây là truyện ngắn đen tối và tàn nhẫn nhất của Bảo Ninh, về đời sống thường nhật. Cái tàn nhẫn trong chiến tranh khi con người bị vật hóa, được diễn lại ở một mức độ mới lạ hơn trong truyện ngắn này. Tuy nhiên, câu chuyện lại kể một cách nhạt nhẽo tầm thường và dễ bị sa vào cách đọc tượng trưng hóa dung tục.

Hai đoạn văn giống hệt nhau của Bảo Ninh là bằng chứng rõ ràng mà khi đọc tập truyện người đọc sẽ nhận ra: nhà văn đã cạn vốn. Bảo Ninh đã xào đi xáo lại dữ liệu của mình và chắc chắn ông cũng hiểu, đã đến lúc phải viết chuyện khác, hoặc viết khác đi về chuyện cũ. Sự giống nhau của ông không hề rọi sáng được một khía cạnh khác nào của quá khứ, nó chỉ cho thấy, ông đã mắc kẹt trong thì đã chia. Có lẽ, câu hỏi tu từ, hoặc không tu từ, thống thiết, “Chuyện xưa kết đi, được chưa?” là câu mà Bảo Ninh bực bội có, giục giã có, quẫn quít có, đòi hỏi chính mình, mở ra một hướng đi mới. Hoặc đi mới lại hướng cũ.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: